
Trường phái nghệ thuật Kiền-đà-la, được quần chúng biết đến như là nghệ thuật Hy Lạp-Phật Giáo, khác biệt với truyền thống tạc tượng thần của nền điêu khắc Ấn Độ thời kỳ đầu và truyền thống tạc tượng người của nghệ thuật Hy Lạp-La Mã.
Người ta nói rằng một nghệ nhân Kiền-đà-la có bàn tay của một người Hy Lạp nhưng lại có cái đầu và trái tim của một người Ấn Độ. Mặc dù quá trình hình thành tác phẩm và phong cách sử dụng chất liệu của ông ta thuộc Hy Lạp nhưng cảm hứng, hình tượng và nghệ thuật khắc về căn bản vẫn là Ấn Độ.
Trường phái này thể hiện thiện xảo qua những tác phẩm điêu khắc, xtucô, đất sét cũng như trong những bức bích họa. Ban đầu, những tác phẩm điêu khắc Kiền-đà-la được sơn và phủ lên bởi những lớp vàng mỏng.
Trường phái nghệ thuật Kiền-đà-la phát triển mạnh ở vùng tây-bắc của Ấn Độ chưa bị chia cắt và phía đông Afghanistan trong khoảng gần 800 năm, giữa thế kỷ I trước CN và thế kỷ VII sau CN. Dưới sự thống trị của vương triều Ba Tư (Iran) từ thế kỷ VI đến thể kỷ V trước CN, Kiền-đà-la đã kết hợp những ảnh hưởng của Ấn Độ và Địa Trung Hải vào trong nghệ thuật và văn hóa.
