Thứ Tư, tháng 11 03, 2021

NHÂN QUẢ ĐỒNG THỜI

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường nhận thức không-thời gian như những sự vật hiện tượng có thật (thực thể). Dựa trên nhận thức đó, Nhất Thiết Hữu Bộ—một trường phái Phật Giáo thời kỳ đầu—chủ trương thời gian thực sự tồn tại qua ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai (tam thế thật hữu). Cũng như thế, trong Vật lý học cổ điển, không-thời gian cũng được xem là những định tính của thực tại.

Tuy nhiên, khi đi sâu vào chiêm nghiệm thực tại bằng trí tuệ vô phân biệt, Phật Giáo Đại Thừa thấy rằng vạn vật liên quan mật thiết với nhau. Thế giới không còn là những cá thể riêng lẻ rời rạc mà là một thể dung nhiếp thống nhất. Không-thời gian do đó chỉ là những khái niệm mang tính quy ước không có thực thể. Để diễn bày cảnh giới này, Phật Giáo Đại Thừa nhiều khi phải phá vỡ những khái niệm khuôn mẫu mà dùng đến những hình thức phủ định. Không-thời gian vì thế trở thành phi không-thời gian. Bồ tát Long Thọ từng nói:

“Nhân sự hữu mà có thời gian, vậy lìa sự hữu thì làm sao có thời gian?

Không có sự hữu nào tồn tại, vậy từ đâu mà có thời gian?”[1]

Chủ Nhật, tháng 8 08, 2021

BÀI CA DU TỬ



- dịch thơ lục bát từ bài thơ Du tử ngâm của Mạnh Giao



Mẹ già nắn nót đường kim

May con chiếc áo ấm tình phong sương

Ra đi áo gửi dặm trường

Ngày về hẹn ước nẻo đường xa xăm.

Tấc lòng cỏ biếc bao lăm

Sánh sao vẻ đẹp xuân trăm nắng vàng!

Thanh Hòa

-Đà Nẵng, Mùa Vu lan 2021 (8 August 2021).



遊子吟

孟郊



慈母手中線

遊子身上衣

臨行密密縫

意恐遲遲歸

誰言寸草心

報得三春暉.



Âm Hán Việt:

DU TỬ NGÂM

Mạnh Giao



Từ mẫu thủ trung tuyến,

Du tử thân thượng y;

Lâm hành mật mật phùng,

Ý khủng trì trì quy.

Thùy ngôn thốn thảo tâm,

Báo đắc tam xuân huy.

Thứ Sáu, tháng 2 12, 2021

CHÀO XUÂN


Xin chào nhau giữa ngày Xuân

Trong vườn cánh bướm ân cần đùa chơi

Nắng vàng lan toả muôn nơi

Cho hoa khoe thắm giữa đời chiêm bao


Chào nhau Xuân rộn ước ao

Nụ cười điểm nở với bao cõi lòng

Cuộc đời tựa những dòng sông

Có khi chìm nổi ruổi rong bến đời


Chào Xuân một thuở yêu người

Áo ai thấp thoáng giữa trời chao nghiêng

Xuân về nắng đổ bên hiên

Bâng khuâng Xuân vẫn như nhiên lối về. 


- Nguyên Đán Tân Sửu - 2021

Thứ Ba, tháng 1 19, 2021

BA TỰ TÍNH – BA CHIỀU KÍCH CỦA THỰC TẠI: Khảo sát giáo nghĩa Ba Tự Tính của Duy Thức Phái


1. Gi
ới thiệu

Duy Thức Phái là một trường phái Phật Giáo Đại Thừa chú trọng đến nhận thức luận. Kinh luận thuộc trường phái này thường nhấn mạnh rằng bất kì cái gì được kinh nghiệm, những cái mà thường được cho là chân thật, thực ra chỉ là một sự giả thác thuần túy ngôn ngữ (upacāra). Sự giả thác này là kết quả của quá trình phân biệt hay cấu trúc khái niệm diễn ra trên sự chuyển biến của thức. Vả lại, sự chuyển biến của thức cũng chỉ là một sự phân biệt mà sựphân biệt đó thậm chí không tồn tại.[1] Hay nói khác đi, toàn thể kinh nghiệm đó không là gì khác ngoài sự biểu hiện của thức.

Nếu toàn bộ kinh nghiệm chỉ là sự biểu hiện của thức, mà thức thậm chí cũng không thực hữu,[2] thế thì mọi nỗ lực của loài người cũng như toàn thể giáo pháp của đức Phật hướng tới điều gì? Có sự thật nào đáng quan tâm đằng sau cái thế giới biểu hiện của thức ấy? 

Để trả lời những câu hỏi này, Duy Thức Phái đã đề xướng giáo lý ba tự tính như một khung sườn cho việc phát triển giáo nghĩa thức biến và trình bày quan điểm về nhận thức của mình. Giáo lý ba tự tính, vì thế, giữ một vai trò hết sức quan trọng trong truyền thống Duy Thức. Nó hiện diện trong hầu hết mọi tác phẩm thuộc truyền thống này, nhưcác kinh Giải Thâm Mật, Lăng-già; các luận Du-già Sự Địa, Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh, Biện Trung Biên, Nhiếp, NhịThập, Tam Thập, và Tam Tự Tính.

Theo giáo nghĩa này, có ba tự tính hay bản chất (tri-svabhāva) đằng sau mọi hiện tượng. Hay nói cách khác, thực tại được cấu thành bởi ba đặc tính này. Đó là:

(1) tự tính biến kế sở chấp (parikalpita-svabhāva): tính chất vọng tưởng, huyễn hóa của các pháp;

(2) tự tính y tha khởi (paratantra-svabhāva): tính chất phụ thuộc vào cái khác để sinh khởi và tồn tại, hay còn gọi là duyên sinh;

(3) tự tính viên thành thật (pariniṣpanna-svabhāva): tính chất chân thật viên mãn của các pháp, cũng gọi là Chân Như.[3]

Bài viết này sẽ trình bày giáo lý ba tự tính qua các kinh luận tiêu biểu của Duy Thức Phái và đặc biệt so sánh làm nổi bật hai mô hình của giáo lý này.