Thứ Hai, tháng 8 17, 2026

Lễ Tự Tứ: Thiết Chế Duy Trì Sự Thanh Tịnh Và Hòa Hợp Của Tăng-già

 


1. Dẫn Nhập

Lễ Tự tứ (Pāli: Pavāraṇā; Skt.: Pravāraṇā) là một trong những pháp sự quan trọng nhất của Tăng đoàn được cử hành vào cuối mùa an cư theo quy định của Luật tạng. Đây không chỉ là nghi thức đánh dấu sự viên mãn của ba tháng an cư mà còn là dịp để mỗi Tỳ-kheo tự nguyện thỉnh cầu đại chúng chỉ dạy những điều còn thiếu sót của mình trên cơ sở "do thấy, do nghe hoặc do nghi". Tinh thần ấy phản ánh một nguyên tắc đặc thù trong tổ chức của Tăng đoàn từ thời kỳ đầu: sự thanh tịnh của mỗi cá nhân luôn gắn liền với trách nhiệm giáo giới lẫn nhau của tập thể để mang lại sự hòa hợp đúng pháp.

Các bài viết hoặc công trình nghiên cứu hiện tại về lễ Tự tứ phần lớn tập trung vào nguồn gốc, nghi thức hoặc ý nghĩa của việc kết thúc mùa an cư. Trong khi đó, vai trò của pháp sự này như một cơ chế duy trì sự thanh tịnh và hòa hợp của Tăng đoàn vẫn chưa được quan tâm tương xứng, đặc biệt từ góc độ đối chiếu giữa Luật tạng Pāli và các bộ Luật Hán tạng.

Trên cơ sở khảo sát tư liệu Luật tạng Pāli, các bộ Luật Hán tạng và tham chiếu một số kinh văn Nikāya, A-hàm, bài viết phân tích duyên khởi, cơ sở kinh điển và cấu trúc của pháp thức tự tứ, từ đó làm rõ chức năng của pháp sự này trong đời sống Tăng-già. Bài viết cho rằng lễ Tự tứ không chỉ là nghi thức kết thúc mùa an cư, mà còn là một thiết chế luật định kết hợp giữa sự tự giác của cá nhân và trách nhiệm giáo giới của tập thể nhằm duy trì sự thanh tịnh, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm sự hòa hợp của Tăng đoàn.

Thứ Tư, tháng 7 22, 2026

AN CƯ VÀ NHỮNG PHÁP TẮC DUY TRÌ BẢN THỂ CỦA TĂNG




An cư là một truyền thống lâu đời và đã được duy trì liên tục trong Phật giáo kể từ ngày Đức Phật còn tại thế. An cư trong tiếng Phạn là varṣa, Pāli là vassa; Hán dịch là an cư, hạ an cư, vũ kỳ, vũ an cư, kết hạ, tọa hạ, tọa lạp... .[1] Đó là khoảng thời gian ba tháng mùa hạ hàng đệ tử xuất gia của Phật sống tập trung cố định trong các trú xứ. Trước khi Đức Phật chế giới an cư, nó vốn là một truyền thống sinh hoạt của hầu hết các giáo phái ở Ấn độ. Riêng đối với các Thánh đệ tử của Phật, việc ấy cũng được mặc nhiên chấp nhận. Theo An cư kiền độ của Tứ Phần Luật (quyển 37) và phẩm Tạp tụng thứ 5 thuộc Ma Ha Tăng Kỳ Luật (quyển 27), pháp an cư được Đức Phật chếđịnh do một số tỳ-kheo du hành trong mùa mưa dẫm đạp sinh vật khiến người đời chê trách.[2]

Chủ Nhật, tháng 4 26, 2026

Sự Đóng Góp Dài Lâu Của Những Nghệ Nhân Kiền-Đà-La Đối Với Nền Nghệ Thuật Hy Lạp-Phật Giáo













Trường phái nghệ thuật Kiền-đà-la, được quần chúng biết đến như là nghệ thuật Hy Lạp-Phật Giáo, khác biệt với truyền thống tạc tượng thần của nền điêu khắc Ấn Độ thời kỳ đầu và truyền thống tạc tượng người của nghệ thuật Hy Lạp-La Mã.

Người ta nói rằng một nghệ nhân Kiền-đà-la có bàn tay của một người Hy Lạp nhưng lại có cái đầu và trái tim của một người Ấn Độ. Mặc dù quá trình hình thành tác phẩm và phong cách sử dụng chất liệu của ông ta thuộc Hy Lạp nhưng cảm hứng, hình tượng và nghệ thuật khắc về căn bản vẫn là Ấn Độ.
Trường phái này thể hiện thiện xảo qua những tác phẩm điêu khắc, xtucô, đất sét cũng như trong những bức bích họa. Ban đầu, những tác phẩm điêu khắc Kiền-đà-la được sơn và phủ lên bởi những lớp vàng mỏng.

Trường phái nghệ thuật Kiền-đà-la phát triển mạnh ở vùng tây-bắc của Ấn Độ chưa bị chia cắt và phía đông Afghanistan trong khoảng gần 800 năm, giữa thế kỷ I trước CN và thế kỷ VII sau CN. Dưới sự thống trị của vương triều Ba Tư (Iran) từ thế kỷ VI đến thể kỷ V trước CN, Kiền-đà-la đã kết hợp những ảnh hưởng của Ấn Độ và Địa Trung Hải vào trong nghệ thuật và văn hóa.