An cư là một truyền thống lâu đời và đã được duy trì liên tục trong Phật giáo kể từ ngày Đức Phật còn tại thế. An cư trong tiếng Phạn là varṣa, Pāli là vassa; Hán dịch là an cư, hạ an cư, vũ kỳ, vũ an cư, kết hạ, tọa hạ, tọa lạp... .[1] Đó là khoảng thời gian ba tháng mùa hạ hàng đệ tử xuất gia của Phật sống tập trung cố định trong các trú xứ. Trước khi Đức Phật chế giới an cư, nó vốn là một truyền thống sinh hoạt của hầu hết các giáo phái ở Ấn độ. Riêng đối với các Thánh đệ tử của Phật, việc ấy cũng được mặc nhiên chấp nhận. Theo An cư kiền độ của Tứ Phần Luật (quyển 37) và phẩm Tạp tụng thứ 5 thuộc Ma Ha Tăng Kỳ Luật (quyển 27), pháp an cư được Đức Phật chếđịnh do một số tỳ-kheo du hành trong mùa mưa dẫm đạp sinh vật khiến người đời chê trách.[2]
Thanh tịnh và hòa hợp là bản thể của Tăng
Trên bình diện truyền thống văn hóa, an cư thể hiện tấm lòng từ bi của người xuất gia đối với muôn loài côn trùng. Bởi vì ở Ấn Độ, thời kỳ an cư là mùa hạ. Đó là mùa mưa, mùa sinh sản của muôn loài côn trùng. Việc đi lại sẽdẫm đạp nhiều sinh vật nhỏ bé. Hơn nữa, trong thời gian hàng xuất gia tập trung một chỗ như vậy, người cư sĩ tại gia dễ dàng lui tới học hỏi. Trên tinh thần giới luật, an cư còn có một ý nghĩa khác quan trọng hơn, nó liên quan đến sinh mạng của Tăng. Đó là củng cố và duy trì tính thanh tịnh và hòa hợp của đoàn thể đệ tử xuất gia của Phật. Ý nghĩa này chỉ có trong Tăng đoàn Phật Giáo mà không có trong những giáo phái khác.
Tăng (Tăng-già, Phạn: saṃgha, Pāli: saṅgha) được người Trung Hoa dịch ý là hòa hợp chúng. Đó là tập thểgồm nhiều người xuất gia sống chung trong tinh thần thanh tịnh hòa hợp và có chung mục đích hướng đến sự giải thoát. Hai yếu tố trọng yếu tạo nên sinh mạng của Tăng là thanh tịnh và hòa hợp. Nếu một trong hai yếu tố này không hiện diện thì bản thể của Tăng bị phá vỡ, và điều đó cũng có nghĩa rằng sinh mạng của Tăng đang bị bức bách.
Dù Tăng là một tập thể sống cộng trụ nhưng vì lòng từ bi, ngay từ khi mới thành lập Tăng đoàn, Đức Phật đã dạy: “Này các tỳ-kheo, các ngươi hãy đi, vì lợi ích của nhiều người, vì an lạc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian; vì mục đích, vì lợi ích, vì an lạc của chư thiên và nhân loại. Chớ đi hai người chung một đường.”[3] Người xuất gia không thể chỉ truy tìm giải thoát cho riêng mình mà còn phải giúp người khác giải thoát, cho nên họ thường đi đó đây để truyền giảng giáo lý chứ không ở cố định một chỗ. Chính vì thế, ba tháng an cư mới thực sự là khoảng thời gian để tăng cường tinh thần đoàn thể (tính hòa hợp) cũng như để thúc liễm thân tâm, củng cố lại những xao nhãng trong suốt thời gian du hóa (tính thanh tịnh).
Thật vậy, sau một thời gian dài du hành giáo hóa, sự miên mật của việc hành trì giới luật chắc chắn có giảm sút, nhất là đối với những vị chưa chứng Thánh quả. Cho nên, ba tháng an cư là môi trường cần thiết để họ nâng cao giới hạnh và trình độ tu chứng. Nó có ý nghĩa như là sự tiếp sức năng lực tu trì, củng cố định lực nội tâm. Đối với những vị mới xuất gia, an cư càng có ý nghĩa hơn bởi họ có cơ hội để học hỏi từ các bậc tôn túc nhiều kinh nghiệm, để biết được sự hành trì của mình đúng hay sai. Nói cách khác, về mặt nội tâm, an cư là để tăng cường sựthanh tịnh của Tăng.
Tăng là một đoàn thể hòa hợp. Bên cạnh việc tu tập giới hạnh của mỗi cá nhân, việc duy trì đời sống chung hòa hợp cũng là một điều không thể thiếu. Do đó, nếu mỗi thành viên cứ sống biệt lập hoặc đi đó đây mà không có thời gian sống cố định chung với nhau thì ý nghĩ hòa hợp sẽ không còn. Yếu tố hòa hợp này hết sức quan trọng và là đặc trưng cơ bản của Tăng đoàn. Các phái ngoại đạo cũng có sự thanh tịnh, cũng có sự chứng đắc, nhưng không có sự hòa hợp. Như kinh Pháp Trang Nghiêm thuật lại, vua Pasenadi nhiều lần chứng kiến lối sinh hoạt của Tăng đã phải ngạc nhiên thốt lên rằng:
“... Bạch Thế Tôn, vua chúa cãi lộn với vua chúa, Sát-đế-lỵ cãi lộn với Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn cãi lộn với Bà-la-môn, gia chủ cãi lộn với gia chủ, mẹ cãi lộn với con, con cãi lộn với mẹ, cha cãi lộn với con, con cãi lộn với cha, anh em cãi lộn với anh em, anh em cãi lộn với chị em, chị em cãi lộn với anh em, bạn bè cãi lộn với bạn bè. Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các tỳ-kheo sống với nhau thuận hòa, thân hữu, không cãi lộn nhau, hòa hợp như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt ái kính... .”[4]
Hòa hợp của Tăng không đơn giản chỉ là trạng thái tụ họp không cãi vã mà đó là sự cộng trụ (sống chung) hòa hợp, cùng giải quyết công việc của Tăng một cách hài hòa đúng pháp. Cho nên trong mùa an cư, dù sống chung với nhau không có mối bất hòa mà không nói chuyện với nhau thì Đức Phật cũng nghiêm cấm. Minh chứng là trường hợp các tỳ-kheo ở Câu-tát-la. Đức Thế Tôn đã khiển trách nhóm tỳ-kheo ở Câu-tát-la khi biết họ sống chung theo lối không nói chuyện (á pháp) trong suốt ba tháng an cư.[5] Dẫu rằng, Đức Thế Tôn đã từng khen ngợi nhóm ba tôn giả A-na-luật, Nan-đề và Kim-tỳ-la về việc thực hành “Thánh mặc nhiên”, nhưng đó là ngày thường, không phải mùa hạ an cư. Huống nữa, các tôn giả này vẫn ấn định cứ sau mỗi năm ngày họp thảo luận chánh pháp một lần, dù có lúc chỉ im lặng như các bậc Thánh.[6]
Để thể hiện trọn vẹn tinh thần hòa hợp đó, Đức Phật đã chế định một số luật tắc cho đời sống cộng trụ của Tăng đoàn mà khoảng thời gian an cư là cơ sở để tiến hành. Đó chính là bảy pháp bất thối, bảy pháp diệt tránh và lục hòa.
Bảy pháp bất thối (bảy pháp khiến không bị suy giảm)
Bảy pháp bất thối được Đức Phật dạy trong kinh Tăng Chi Bộ như sau:[7]
(1) Này các tỳ-kheo, khi nào chúng tỳ-kheo thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các tỳ-kheo, chúng tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
(2) Này các tỳ-kheo, khi nào chúng tỳ-kheo tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các tỳ-kheo, chúng tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
(3) Này các tỳ-kheo, khi nào chúng tỳ-kheo không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban hành, thời này các tỳ-kheo, chúng tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
(4) Này các tỳ-kheo, khi nào chúng tỳ-kheo tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc tỳ-kheo Thượng tọa, những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc Thầy của chúng Tăng và nghe theo những lời dạy của những vị này, thời này các tỳ-kheo, chúng tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
(5) Này các tỳ-kheo, khi nào chúng tỳ-kheo không bị chi phối bởi tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác, thời này các tỳ-kheo, chúng tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
(6) Này các tỳ-kheo, khi nào chúng tỳ-kheo thích sống những chỗ nhàn tịnh, thời này các tỳ-kheo, chúng tỳ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
(7) Này các tỳ-kheo, khi nào chúng tỳ-kheo tự thân an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến muốn đến ở. Và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở được sống an lạc, thời này các tỳ-kheo, chúng tỳ-kheo sẽđược lớn mạnh, không bị suy giảm.
Bảy pháp bất thối là những nguyên tắc sống mang tính dân chủ và bình đẳng. Chúng được áp dụng cho Tăng đoàn để xây dựng một đoàn thể hòa hợp, đồng thời để tạo nền tảng cho việc thực hành giới luật đúng như pháp.
Bảy pháp diệt tránh (bảy nguyên tắc giải quyết tranh chấp)
Bên cạnh bảy pháp bất thối có chức năng xây dựng nền tảng vững mạnh cho Tăng, bảy pháp diệt tránh có nhiệm vụ diệt trừ mọi tranh chấp (tránh sự) trong Tăng để củng cố và duy trì tinh thần thanh tịnh và hòa hợp.[8]Đó là bảy nguyên tắc cơ bản để xây dựng một đời sống cộng trụ hòa hợp. Những nguyên tắc này giúp tăng đoàn bình ổn những xáo trộn trong nội bộ để mọi thành viên an ổn tu học. Bảy pháp diệt tránh được dạy chi tiết trong Luật tạng, ở đây tóm tắt như sau:[9]
(1) Hiện tiền tỳ-ni (Pāli: sammukhā-vinayo): tức khi làm yết-ma xử lý sự việc liên quan đến một tỳ-kheo nào đó thì đòi hỏi phải có sự hiện diện của vị tỳ-kheo ấy. Đây là nguyên tắc không được xử vắng mặt.
(2) Ức niệm tỳ-ni (sati-vinayo): diệt trừ tránh sự thông qua việc nhớ lại. Đó là trường hợp một tỳ-kheo vô tội hoặc phạm tội nhưng đã sám hối đúng pháp bị người khác cật vấn, làm phiền. Vị ấy nhớ lại rõ ràng rằng mình vô tội hoặc đã sám hối đúng pháp do đó xin tăng làm yết-ma xác nhận. Sau khi tăng làm yết-ma thừa nhận tỳ-kheo ấy vô tội, mọi sự tranh cãi liên quan phải chấm dứt, không ai có quyền nói tỳ-kheo ấy có tội.
(3) Bất si tỳ-ni (amūḷha-vinayo): Tăng làm yết-ma công nhận các hành vi sai phạm của một tỳ-kheo xảy ra trong thời gian tỳ-kheo ấy mắc bệnh cuồng si (tâm thần). Tỳ-kheo ấy được xem là không phải chịu trách nhiệm vềnhững hành vi đã phạm trong thời gian bị bệnh tâm thần của mình.
(4) Tự ngôn trị (paṭiññātakaraṇaṃ): giải quyết tránh sự bằng việc thú nhận của đương sự. Điều này có nghĩa rằng tăng chỉ xử một tỳ-kheo có tội khi vị ấy nhận tội. Đối với những trường hợp ngoan cố chối tội dù bằng chứng đã rõ ràng, tăng sẽ dùng đến nguyên tắc tội xứ sở.
(5) Tội xứ sở (cũng gọi là Mích tội tướng) (tassapāpiyasikā): nếu tỳ-kheo phạm tội mà không chịu thú nhận thì phải tìm bằng chứng phạm tội để buộc đương sự chấp nhận. Nếu làm vậy không hiệu quả thì phải dùng đến biện pháp chế tài cho đến khi tỳ-kheo ấy chịu khuất phục trước Tăng.
(6) Đa nhân ngữ (yebhuyyasikā): lấy biểu quyết theo số đông bằng cách rút thẻ hay bỏ phiếu. Cách làm này có phạm trù ý nghĩa rộng rãi. Nghĩa là có bỏ phiếu công khai, có bỏ phiếu kín, có vừa bỏ phiếu vừa đi kèm rỉ tai. Phương thức và kết quả cách làm này thường phụ thuộc vào quan điểm của người chủ trì.
(7) Như thảo phú địa (tiṇavatthārakaṃ): dùng cỏ che lấp. Nghĩa là lấy cỏ che lấp tất cả, không phân biệt đất sạch đất dơ hay đá sỏi. Có những trường hợp, trong tăng khởi lên tranh chấp rồi chia thành hai hay nhiều phe nhóm chống đối nhau khiến cho sinh hoạt tăng rơi vào bế tắc. Các tỳ-kheo đứng đầu mỗi nhóm có trách nhiệm nhận ra điều đó và tìm cách hóa giải bằng cách không phân biệt đúng sai nữa mà hướng về mục đích chung ổn định tăng chúng. Khi đó mọi người sẽ thực hiện pháp như thảo phú địa. Đây thực chất là một sự sám hối tập thể trong đó bao hàm hai ý nghĩa: sám hối và hòa giải.
Tất cả mọi việc xử trị trong Tăng đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc trên. Nếu không có những nguyên tắc ấy chi phối việc xử trị thì tránh sự không sao chấm dứt được, tính hòa hợp của Tăng do đó cũng bị phá vỡ. Bao giờ và ở đâu mà bảy nguyên tắc này được tuân thủ thì sự thanh tịnh và hòa hợp của tăng vẫn hiện diện, bản thể của Tăng vẫn được duy trì.
Lục hòa
Cuối cùng, tính hòa hợp của Tăng được thể hiện trong đời sống tương thân tương ái, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Như đã nói ở trên, Tăng được định nghĩa là hòa hợp chúng. Sự hòa hợp này bao hàm hai phạm trù lý và sự. Về lý, mọi thành viên của tăng đều hướng đến mục đích giải thoát niết bàn. Về sự, hòa bao gồm sáu nghĩa, được gọi là lục hòa hay lục khả hỷ pháp:[10]
(1) Thân hòa đồng trú: là thân nghiệp từ hòa, tức cử chỉ khiêm nhường và từ tốn đối với bạn đồng tu.
(2) Khẩu hòa vô tránh: là lời nói chân thật, hòa nhã, đoàn kết.
(3) Ý hòa đồng duyệt: tâm ý luôn hoan hỷ với bạn đồng phạm hạnh.
(4) Lợi hòa đồng quân: lợi dưỡng được chia đều giữa các bạn tu cùng trú xứ.
(5) Giới hòa đồng tu: là tuân thủ các điều khoản giới luật chung, không tự ý thêm bớt điều luật (điều này được hàm ý trong điều thứ 3 của bảy pháp bất thối).
(6) Kiến hòa đồng giải: là chia sẻ kiến giải về giáo lý với bạn đồng tu. Điều này chủ yếu ngăn chặn sự phá kiến làm chướng ngại cho tiến trình tu tập.
Như vậy, một mặt, bảy pháp diệt tránh có vai trò diệt trừ những xáo trộn trong tăng. Mặt khác, sáu pháp khả hỷ giúp giữ hòa khí, làm tăng trưởng tinh thần đoàn kết hòa hợp. Hai mặt bổ sung cho nhau để giữ vững tính thanh tịnh và hòa hợp của tăng.
Với những nguyên tắc sống được trình bày ở trên, Tăng đoàn được tin tưởng là một đoàn thể hòa hợp tận gốc rễ. Nếu có pháp hữu lậu nào khởi lên trong Tăng thì lập tức Tăng làm yết-ma trừ diệt để trả lại sự thanh tịnh hòa hợp cho Tăng. Tuy nhiên, muốn thực hiện được điều đó, các thành viên của Tăng phải sống chung với nhau trong một trú xứ. Điều đó có nghĩa rằng, chỉ trong khoảng thời gian an cư các nguyên tắc trên mới được áp dụng triệt để, sự thanh tịnh mới được tăng trưởng và tính hòa hợp mới hiện diện trọn vẹn.
Để kết thúc ba tháng hạ an cư, một trong các phận sự của Tăng phải được tiến hành chính là tự tứ.[11] Đây là pháp yết-ma cầu thỉnh ba việc thấy, nghe, nghi. Mỗi tỳ-kheo đối trước tăng thỉnh cầu chỉ giáo những lỗi lầm của mình nếu có, dựa trên ba trường hợp thấy, nghe và nghi trong suốt thời gian ba tháng. Tự tứ là bổn phận của Tăng, có ý nghĩa như thuyết giới. Đó cũng là sự biểu hiện của tinh thần thanh tịnh và hòa hợp của Tăng nhưng ở tầm mức cao hơn. Trong nghi thức tự tứ, những người được thỉnh cầu sẽ nói lên những lỗi lầm của người thỉnh cầu trong tinh thần xây dựng, điều này nói lên tính hòa hợp. Người được chỉ lỗi sẽ y theo pháp mà sám hối, đó là thể hiện tính thanh tịnh. Như vậy, sự thanh tịnh và hòa hợp của tăng được thể hiện xuyên suốt thời gian an cư. Có như vậy an cư mới trọn vẹn ý nghĩa.
THÍCH THANH HÒA
Thư mục tham khảo:
Ma-ha Tăng-kỳ Luật [摩訶僧祇律]. Hán Dịch bởi Phật-đà-bạt-đà-la. 40 quyển. Đại Chính 22, số 1425.
Phật Quang Đại Từ Điển [佛光大辭典]. Đài Bắc: Phật Quang Văn Hóa Sự Nghiệp, 1999.
Saṃyutta Nikāya. Edited by M. Léon Feer. 6 vols. London: Pali Text Society, 1960-1991.
Tạp A-hàm Kinh [雜阿含經]. Hán Dịch bởi Cầu-na-bạt-đa-la. Đại Chính 2, số 99.
Trung A-hàm Kinh [中阿含經]. Hán Dịch bởi Tăng-già Đề-bà. 60 quyển. Đại Chính 01, số 26.
Trường A-hàm Kinh [長阿含經]. Hán Dịch bởi Phật-đà Da-xá & Trúc Phật Niệm. Đại Chính 01, số 0001.
Tứ Phần Luật [四分律]. Hán Dịch bởi Phật-đà-da-xá & Trúc Phật Niệm. Đại Chính 22, số 1428.
Minh Châu, Thích [dịch]. Kinh Tăng Chi Bộ. 4 tập. TP. Hồ Chí Minh: Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1996.
——— [dịch]. Kinh Trung Bộ. 3 tập. TP. Hồ Chí Minh: Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992.
Pháp Vân, Đại Sư. Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập [翻譯名義集]. Đại Chính 54, số 2131.
Thích Trí Thủ, Hòa Thượng. Yết-ma Yếu Chỉ. NXB Tôn Giáo.
[1] Phật Quang Đại Từ Điển [佛光大辭典], ed. Từ Di (Đài Bắc: Phật Quang Văn Hóa Sự Nghiệp, 1999), 2398.
[2] Tứ Phần Luật, Phật-đà-da-xá và Trúc Phật Niệm dịch Hán, Đại Chính 22, số 1428, 830b; Ma-ha Tăng-kỳ Luật, Phật-đà-bạt-đà-la dịch Hán, Đại Chính 22, số 1425, 450c.
[3] Pāli: Caratha bhikkhave cārikaṃ bahujana-hitāya bahujana-sukhāya lokānukampakāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ || Mā ekena dve agamettha || Tương đương Hán: 我已解脱人天繩索。汝等亦復解脱人天繩索。汝等當行人間。多所過度。多所饒益。安樂人天。不須伴行。一一而去。 “Ta đã thoát khỏi sự trói buộc trong cõi người và cõi trời, các ông cũng đã thoát khỏi sự trói buộc trong cõi người và cõi trời. Các ông hãy đi vào nhân gian, đi qua nhiều nơi, lợi ích nhiều chỗ, khiến người và trời được an lạc; chớ đi cùng với bạn, mỗi người hãy tự đi riêng.” Xem Saṃyutta Nikāya, ed. M. Léon Feer, 6 vols (London: Pali Text Society, 1960-1991), Vol. I, 105 (IV.1.5); Tạp A-hàm Kinh, Cầu-na-bạt-đa-la dịch Hán, Đại Chính 2, số 99, 288b.
[4] Thích Minh Châu, Kinh Trung Bộ (TP. Hồ Chí Minh: Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992), tập II, kinh số 98.
[5] Tứ Phần Luật, Tự tứ kiền độ, 836a12-17: 汝曹癡人。自以爲樂。其實是苦。汝曹癡人。自以無患。其實是患。汝曹癡人。共住如似怨家。猶如白羊。何以故。我無數方便教諸比丘。彼此相教共相受語展轉覺悟。汝曹癡人。同於外道。共受瘂法。不應如是行瘂法。若行瘂法突吉羅。 “Các ông là những kẻ ngu si, tự cho đó là an ổn, kỳ thực là khốn khổ. Các ông là những kẻ ngu si, tự cho đó là không tai vạ, kỳ thực là tai vạ. Các ông là những kẻ ngu si, sống chung với nhau như là oan gia, như những con dê khờ khạo. Vì sao? Ta đã dùng vô số phương tiện dạy các tỳ-kheo rằng phải dạy bảo lẫn nhau, thọ nhận lời dạy bảo của nhau, giác ngộ lẫn nhau. Các ông là những kẻ ngu si, giống như những kẻ ngoại đạo, cùng nhau thực hành pháp câm. Nếu [tỳ-kheo] thực hành pháp câm, phạm tội đột kiết la.” Cũng xem Ma-ha Tăng-kỳ Luật, 451a.
[6] Xem Trung A-hàm Kinh, Tăng-già Đề-bà dịch Hán, Đại Chính 01, số 26, (185) Ngưu Giác Sa Lâm Kinh, 729b27-731a28; Minh Châu, Kinh Trung Bộ, tập I, (31) Tiểu Kinh Khu Rừng Sừng Bò.
[7] Tương đương Kinh Du Hành của Trường A-hàm: 七不退法者。一曰數相集會講論正義。則長幼和順。法不可壞。二曰上下和同敬順無違。則長幼和順。法不可壞。三曰奉法曉忌不違制度。則長幼和順。法不可壞。四曰若有比丘力能護衆多諸知識宜敬事之。則長幼和順。法不可壞。五曰念護心意孝敬爲首。則長幼和順。法不可壞。六曰淨修梵行不隨欲態則長幼和順。法不可壞。七曰先人後己不貪名利。則長幼和順。法不可壞。 “(1) Thường xuyên hội họp bàn luận chính nghĩa thì lớn nhỏ hòa thuận, chánh pháp không bị hư hoại; (2) Trên dưới hòa đồng, kính thuận không trái thì lớn nhỏ hòa thuận, chánh pháp không bị hư hoại; (3) Tôn trọng pháp, hiểu điều cấm kỵ thì lớn nhỏ hòa thuận, chánh pháp không bị hư hoại; (4) Nếu có tỳ-kheo nào có khả năng bảo vệ chúng, có nhiều hiểu biết, hãy kính thờ vị ấy thì lớn nhỏ hòa thuận, chánh pháp không bị hư hoại; (5) Giữ gìn và phòng hộ tâm ý, lấy hiếu kính làm đầu thì lớn nhỏhòa thuận, chánh pháp không bị hư hoại; (6) Giữ phạm hạnh thanh tịnh, không phóng túng theo các thói tham dục thì lớn nhỏhòa thuận, chánh pháp không bị hư hoại; (7) Người trước mình sau, không ham danh lợi thì lớn nhỏ hòa thuận, chánh pháp không bị hư hoại.” Xem Kinh Tăng Chi Bộ (TP. Hồ Chí Minh: Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1996), chương Bảy Pháp, phẩm Vajjī; Trường A-hàm Kinh, Phật-đà Da-xá và Trúc Phật Niệm dịch Hán, Đại Chính 01, số 0001, Du Hành Kinh, 11b26-c16.
[8] Tránh sự (Pāli: adhikaraṇa, Hán: 諍事): sự tranh chấp trong Tăng, luật phân biệt 4 loại: (1) ngôn tránh: tranh chấp do có sự bất đồng trong khi đàm luận về Chánh Pháp Luật; (2) mích tránh: tranh chấp do đưa ra chứng cớ phạm tội không giống nhau; (3) phạm tránh: tranh chấp khởi lên do có sự bất đồng trong khi phán quyết một tỳ-kheo có phạm hay không phạm tội; (4) sự tránh: tranh chấp về việc làm yết-ma đúng hay sai. Xem Tứ Phần Luật, 915c21-916a16.
[9] Xem Tứ Phần Luật, Diệt Tránh Kiền Độ, 913c19-915c20.
[10] Xem Trung A-hàm, Châu Na Kinh, 755b23-c08; Đại Sư Pháp Vân, Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập, Đại Chính 54, số2131, 1073c.
[11] Tự tứ (Phạn: Pravāraṇā, Pāli: Pavāraṇā, Hán: 自恣): có nghĩa là thỉnh cầu. Đây là nghi thức kết thúc ba tháng an cưbằng việc mỗi tỳ-kheo thỉnh cầu tỳ-kheo khác chỉ lỗi của mình qua ba phương diện thấy, nghe, nghi để sám hối. Thời điểm tự tứcó sự sai khác giữa các truyền thống. Ở các nước theo truyền thống Bắc truyền, tự tứ diễn ra vào ngày rằm tháng Bảy. Ở các nước theo Nam truyền, vì an cư sau Bắc truyền một tháng cho nên lễ này được tổ chức vào ngày Rằm tháng Tám. Đó là áp dụng cho tiền an cư đúng theo thông lệ. Còn trường hợp hậu an cư, ngày tự tứ cũng phải thụt lùi lại cho đủ ba tháng, tức 90 ngày. Tham khảo thêm Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Yết-ma Yếu Chỉ (NXB Tôn Giáo), 220.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét