Thứ Năm, tháng 8 02, 2007

Hát Cho Tình Yêu và Phạm Hạnh

Nhiều người nghĩ rằng đức Phật chúng ta chỉ dửng dưng trong cõi Tam-ma-địa chất ngất hương thoát tục, nói chi đến việc dâng tặng Ngài những lời nỉ non từ một trái tim đẫm lệ tình. Thế mà chuyện lại có thật, có ghi chép hẳn hòi trong Kinh tạng được gọi là nguyên thủy nhất: A-hàm (Hán Tạng) hay Nikaya (Pali). Hệ kinh này là thế giới nghiêm cẩn của chư vị Trưởng lão A La Hán, trong đó có đức Phật Bổn Sư của chúng ta. Đọc bài kinh Thích Đề Hoàn Nhân Vấn[1], [kinh thứ 14 của Trường A hàm, tương đương bản Pali Sakkapañhā-suttam trong Nikaya], dù là người có trái tim với độ rung cảm trung bình nhất cũng không khỏi thốt lên sự ngạc nhiên trước giây phút đồng điệu giữa một tâm hồn tục lụy với một Thánh cách vĩ đại đã diệt hết các ái nhiễm triền phược.

Thứ Hai, tháng 11 20, 2006

Thiền làm lắng tâm, giúp cơ thể khỏe mạnh

Jim McLaughlin là một con người thực tế trong suốt cuộc đời của mình. Ông là nhà cố vấn thương mại phục vụ 10 năm trong Hải quân Mỹ, chưa bao giờ sử dụng thuốc kích thích, lập gia đình năm 32 tuổi và có 2 con, cả 2 đều được đào tạo chuyên môn.
Thiền Phật giáo vẫn còn xa lạ đối với ông khi ông bắt đầu tìm cách chế ngự sự rối loạn trong tâm mình. Và rồi, vào những năm cuối của độ tuổi ngũ tuần, ông được chẩn đoán là mắc phải chứng thiếu tập trung (ADD - Attention Deficit Disorder).
“Tôi đã mắc chứng này từ rất lâu, có điều là tôi chưa bao giờ nhận ra nó,” ông nói. “Đó là lý do tại sao tôi cứ lượn lờ như một con bướm từ nơi này đến nới khác. Tôi cần một thứ gì đó để làm lắng dịu tất cả những náo động trong đầu tôi. Tôi đang gặp phải những rắc rối trong vấn đề duy trì công việc cho ổn thỏa. Đã có những cảm giác vô vị …”
Ba năm trước, ông được nghe một nhà khoa học, Daniel Goleman, bàn về một bài thực hành được gọi là thiền chánh niệm trong một buổi nói chuyện trên radio. Ông ta đã nói không phải bằng cách thức của tôn giáo mà bằng cách thức của một nhà khoa học nói về một phát minh mới. McLaughlin đã đọc cuốn Những cảm xúc tiêu cực (Destructive Emotions) của Goleman và quyết định thử thực hành thiền.
Ngày nay, sau ba năm tham gia Hội Thiền tuệ giác Thánh Louis (St. Louis Insight Meditation Group), McLaughlin cho biết thiền đã thay đổi cuộc đời của ông. Ông hành thiền 30 phút mỗi ngày, khoảng 4 hoặc 5 ngày trong một tuần.
 “Đó không phải là một tôn giáo,” ông nói. “Tôi là người theo Tân giáo và không lý do gì tôi phải thay đổi đức tin của mình đối với Chúa. Tôi chỉ muốn chế ngự sự ồn ào trong đầu tôi.”

Chủ Nhật, tháng 11 19, 2006

BÁNH XE LUÂN HỒI

Bánh xe luân hồi là tên gọi chỉ cho một biểu tượng được vẽ như hình bánh xe có 12 chiếc nan hoa dùng để biểu trưng cho giáo lý mười hai nhân duyên trong nhà Phật. Biểu tượng bánh xe luân hồi trải qua thời gian đã trở thành ý niệm quen thuộc trong dân gian, đôi khi nó xuất hiện dưới cái tên ‘bánh xe sinh hóa’ hay ‘bánh xe sinh tử’. Vậy bánh xe luân hồi có ý nghĩa như thế nào trong nhà Phật?
Trước hết, bánh xe luân hồi diễn tả sự luân hồi của chúng sinh trong các nẻo đường sinh tử; đồng thời qua đó biểu thị những tư tưởng tinh túy của Phật giáo như giáo lý Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên. Tứ diệu đế là bốn sự thật vi diệu, thâm sâu. Bốn sự thật này gồm có: 1- cuộc đời này tràn đầy khổ đau; 2- khổ đau ấy có nguyên nhân của chúng, đó là tham ái, sân giận, si mê…, 3- trạng thái tức diệt những nguyên nhân của khổ đau ấy; 4- con đường dẫn đến sự tức diệt ấy. Xuyên suốt bốn sự thật được diễn tả qua giáo lý Tứ diệu đế là giáo lý Thập nhị nhân duyên. Đó là giáo lý về chuỗi nhân duyên gồm mười hai chi phần giải thích quá trình vận hành của toàn thể thế gian bao gồm cả hữu tình và vô tình.

Thứ Ba, tháng 9 05, 2006

Nó vốn như vậy

“Lẽ ra nó không nên như vậy”, “Lẽ ra nó phải như thế” là những câu than vãn mà chúng ta thường bắt gặp. Hay nói đúng hơn, đó chính là tâm lý thường tình của nhân loại chúng ta. Nguyên nhân do đâu? Do chúng ta không nhận thức đầy đủ lý tánh Như Thị của các pháp. Mọi sự vật hiện tượng, dù biểu diện của nó có thế nào đi nữa, vốn chỉ là sự thể hiện của lý Duyên khởi. Các pháp do duyên sinh, các pháp do duyên diệt. Điều kiện hội tụ thì có sự sinh khởi, điều kiện tán thất thì có sự diệt vong. Tán tụ diệt sinh đều là bất khả tư nghị, đều là “pháp nhĩ như thị”. Mọi sự vật hiện tượng đã là “pháp nhĩ như thị - pháp tánh là như vậy”, nói theo ngôn ngữ đời thường là: “nó vốn như vậy”, nó tồn vong theo cách mà nó phải thế, cho nên chúng ta không thể “mong nó như thế này”, “mong nó như thế khác”.

Chủ Nhật, tháng 8 27, 2006

Dược Sư Như Lai

Vị Y Vương Chữa Trị Những Căn Bệnh Thân và Tâm
Nguyên tác: Geshe Kelsang Gyatso
Thanh Hòa dịch 


Đức Phật Dược sư là một đấng Toàn giác. Để hiểu rõ ngài là ai, bản thể của ngài là gì, vai trò của ngài như thế nào…, trước tiên chúng ta cần hiểu thế nào là một chúng sinh giác ngộ.
Thông thường, “chúng sinh” là chỉ cho bất cứ sinh thể nào cảm nhận được cảm giác (có cảm thọ) – dễ chịu, khó chịu và trung tính. Như thế, chúng ta là những chúng sinh, và các loài sinh vật khác cũng là những chúng sinh; nhưng nhà cửa và cây cỏ thì không phải là chúng sinh bởi vì chúng không có cảm giác. Có hai loại chúng sinh: hàm thức và giác ngộ. Một chúng sinh hàm thức, hay là một sinh thể đang sống, là chúng sinh mà tâm của nó đang bị bóng tối vô minh bao phủ. Một chúng sinh giác ngộ là một chúng sinh đã hoàn toàn thoát khỏi bóng tối của vô minh.

Thứ Tư, tháng 8 23, 2006

Tìm Hiểu Về Sám Hối


1. Giới thiệu

Kinh Đại Bát-niết-bàn có nói: “thế gian có hai hạng người dũng mãnh, thứ nhất là người không làm ác, thứ hai là người đã làm ác mà biết hối lỗi”. Sống trên cuộc đời này mấy ai không phạm phải điều sai quấy, điều quan trọng là phải nhận thức và sửa đổi những lỗi lầm mình đã phạm, có như thế thì cuộc sống mới càng ngày càng tốt đẹp hơn. Đối với người xuất gia, muốn thực hiện con đường giải thoát thì phải hộ trì Thánh giới đã thọ không để cho bị hủy phạm, nếu Thánh giới bị hủy phạm khiến cho giới thể bị ô nhiễm thì cần phải làm cho thanh tịnh trở lại. Lại nữa, các hành vi thiện ác của chúng ta vốn không mất đi mà nó chỉ chuyển sang một dạng tồn tại khác dưới hình thức những năng lực tiềm tàng gọi là nghiệp. Nghiệp ấy đức Phật dạy: “Một khi nghiệp đã được tạo thì trăm ngàn kiếp không mất đi, chỉ chờ điều kiện thuận tiện là phát hiện thành quả”. Vì nghiệp là năng lực dẫn sanh quả báo, cho nên người học Phật cần phải biết cải thiện nghiệp của mình. Xuất phát từ hai lý do hộ trì Thánh giới và tiêu trừ nghiệp này mà đức Phật thiết lập phương pháp sám hối.

Thứ Hai, tháng 7 24, 2006

Phật giáo: Hữu thần - Vô thần

Theo nếp suy nghĩ của chúng ta, mọi vật trong thế giới đều được chia thành hai đối cực: có - không, đúng - sai, phải - quấy… Nhưng mà, vạn vật đâu phải chỉ là sự phân chia ranh giới rạch ròi, sự phân chia rạch ròi đó chỉ là hệ quả hệ lụy từ trong bản chất ưa suy luận của chúng ta thôi (kinh Lăng già gọi là hý luận: prapañca).
Cũng theo lối lập luận ấy, người ta nghĩ về đạo Phật, kẻ hoan nghênh, người phản bác, trịnh trọng tuyên bố đạo Phật là đạo vô thần (atheism).